(Chia sẻ) Ảnh hưởng của việc bổ sung dầu bông đến khả năng sản xuất và phát thải khí metan từ dạ cỏ của bò sữa



Ảnh hưởng của khẩu phần bổ sung dầu bông tới lượng thu nhận các hoạt chất, năng suất sữa, kết quả sử dụng đồ ăn, mức độ & cường độ phát thải khí mêtan (CH4) của bò đang tiết sữa đã được đánh giá thông sang 1 thí nghiệm kéo dài từ tháng 2 đến tháng tháng 9/2015. Thí nghiệm được thực hiện trên 24 bò Holstein Friesian đang tiết sữa ở tháng 3-5, chu kỳ tiết sữa 2-6, có trọng lượng bình quân 575,3 kg & sản lượng sữa bình quân 22,1 kg/con/ngày được chia thành 4 lô, tái diễn 6 lần, bao gồm: lô đối chứng (ĐC, khẩu phần cơ sở) & ba lô thí nghiệm ăn khẩu phần cơ sở & được bổ sung dầu bông ở mức một,5%; 3,0% & 4,5% (% VCK) tương ứng KP1,5; KP3,0 & KP4,5. Kết quả cho biết các lô ăn khẩu phần bổ sung dầu bông ở mức một,5-4,5% sẽ làm tăng lượng chất khô thu nhận 3,39- 6,82% & tăng năng lượng thu nhận 6,25-14,43%, tuy nhiên giảm thiểu mật độ tiêu hóa VCK khẩu phần 0,3- 6,7% (ở mức 3,0-4,5%) đối với việc không bổ sung dầu. Bổ sung dầu bông làm tăng năng suất sữa 5,4-12,2% & giảm thiểu cường độ phát thải khí mêtan tính trên nhà sản xuất sữa tiêu chí (l/kg FCM) 18,8- 37,9% đối với việc không bổ sung dầu. Việc bổ sung dầu bông ở mức một,5-3,0 trong khẩu phần cho hiệu quả tối ưu nhất, làm tăng kết quả chăn nuôi, giảm phát thải khí CH4 ra môi trường.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo số liệu report của Bộ Tài nguyên & Môi trường năm 2014, tổng lượng phát thải khí nhà kính (KNK) từ chăn nuôi tại Việt Nam (VN) trong năm 2010 tầm 18 triệu tấn CO2-eq, chiếm 21% tổng phát thải KNK trong nông nghiệp. Trong tổng lượng mêtan thải ra từ hoạt động chăn nuôi thì của chăn nuôi gia súc nhai lại là to nhất, tầm 74%(Tamminga, 1992). Như vậy, nguy cơ do phát thải CH4 vẫn tiếp đó tăng lên do tăng số đầu con & quy mô chăn nuôi để đáp ứng nhu cầu thịt, sữa càng ngày cao của con người (Leng, 2008).

Bổ sung chất béo không no vào khẩu phần có thể giảm thải mêtan đến 37% do làm tăng acid propionic & giảm tổng lượng protozoa trong dạ cỏ (Czerkawski, 1969). Mặc dù việc bổ sung cũng có thể có tác động tới thành phần của sữa, đặc biệt là dung lượng mỡ sữa do sự xáo trộn của hệ vi sinh vật dạ cỏ. Bổ sung chất béo (dầu, mỡ) vào suất ăn cho gia súc nhai lại có thể giảm ngay 25% (in vitro) – 80% (in vivo) lượng khí thải mêtan (Machmuller et al., 2000). Từ những dẫn chứng nhận tế trên, việc bổ sung dầu thực vật có thể giảm thiểu phát thái khí mê tan ở bò sữa. Mặc dù, mức bổ sung dầu thực vật phù hợp trong suất ăn của bò sữa cần được kiểm chứng trong điều kiện (ĐK) nước ta.

2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1. Địa điểm & thời gian

Thí nghiệm được thực hiện tại Công ty CP giống bò sữa Mộc Châu, thị trấn Nông trường Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 2 tháng 9 năm 2015.

2.2. Gia súc & đồ ăn thí nghiệm

Tổng số 24 bò Holstein Friesian (HF) có trọng lượng bình quân là 578,42 ± 50,9 kg, đang tiết sữa ở tháng thứ 3-5, chu kỳ tiết sữa 2-6; sản lượng sữa bình quân là 25,23 ± 4,4 kg/con/ngày được chọn để sử dụng trong hai đợt thí nghiệm. Các gia súc bảo đảm đồng đều các nhân tố tuổi, chu kỳ tiết sữa & sản lượng sữa trung bình/ngày.

Cây ngô được thu hoạch thời điểm chín sáp (90-100 ngày tuổi) sau đó được chế biến ủ chua (không bổ sung) & được bảo quản trong quá trình 60-90 ngày trước lúc cho gia súc ăn. Cỏ voi được cắt ngắn (10-15 cm).

2.2. Thiết kế thí nghiệm

Tổng số 24 gia súc thí nghiệm được sắp đặt tình cờ vào các bốn nghiệm thức thí nghiệm theo phương pháp thiết kế tình cờ hoàn toàn, tái diễn 6 lần. Gia súc thí nghiệm được cho ăn mức dầu bông (% VCK) là 0; một,5; 3,0 & 4,5% tương ứng ở các nghiệm thức ĐC, KP1.5, KP3.0 & KP4.5 (Bảng 1).

2.3. Nuôi dưỡng & quản lý

Toàn bộ gia súc thí nghiệm đều được ăn khẩu phần cơ sở gồm cỏ voi (ăn tự do); ngô ủ (20 kg); đồ ăn TMR (12 kg/ngày); rơm (0,3 kg); bã bia (2 kg); cỏ signal (5 kg).

Trong thời gian nuôi thích ứng, bò được tiêm phòng bệnh tụ huyết trùng, lở mồm long móng & tẩy giun sán theo điều khoản của thú y cùng lúc nhốt riêng & được cho ăn hai lần vào buổi sáng (8h) & buổi chiều (16h), nước uống cung ứng tự do. Thức ăn cung ứng & đồ ăn thừa được cân mỗi ngày trước lúc cho ăn. Cuối thời điểm thí nghiệm, thực hiện khẳng định mật độ tiêu hóa, bò được thu phân theo mỗi cá thể.

2.4. Các chỉ tiêu theo dõi & phương pháp xác định

Xác định thành phần hóa học & giá trị dinh dưỡng: Mẫu đồ ăn gia súc lấy theo tiêu chí Việt Nam (VN) TCVN 4325:2007. Các chỉ tiêu phân tích bao gồm: VCK, ME, cổ phần, NDF, ADF & Ash. VCK, cổ phần & khoáng tổng cộng được phân tích theo các chuẩn mực tương ứng TCVN-4326- 2001, TCVN-4328-2007, TCVN-4327-2007. NDF & ADF được phân tích theo Goering & Van Soest (1970). Giá trị ME được ước lượng theo NRC (2001) (GE (kcal) = 4143 + 56EE + 15CP – 44Ash (các giá trị EE, cổ phần, Ash tính theo phần trăm DM); DE (Mj/kg DM) = -4,4 + một,10GE (Mj) – 0,024CF (g); ME (Mj/kg DM) = 0,82DE).

Lượng đồ ăn thu nhận hàng ngày: Lượng đồ ăn thu nhận mỗi ngày của bò được khẳng định bằng phương pháp cân lượng đồ ăn cho ăn, đồ ăn thừa mỗi ngày theo mỗi cá thể; mỗi tháng lấy kiểu đồ ăn cho ăn, đồ ăn thừa để phân tích thành phần hóa học (VCK, cổ phần, NDF, ADF & khoáng tổng số) & ước lượng giá trị ME. Lượng đồ ăn thu có được tính toán dựa theo lượng đồ ăn cho ăn, lượng đồ ăn thừa & giá trị dinh dưỡng của những loại đồ ăn.

Xác định mật độ tiêu hóa các chất dinh dưỡng: Tổng lượng đồ ăn cho ăn, đồ ăn thừa & tổng lượng phân thải ra được khẳng định liên tiếp 4 ngày cuối của tháng thí nghiệm thứ 1 & tháng cuối (các ngày 26-30 & 52-56). Mẫu đồ ăn & kiểu phân được thu thập & bảo quản trong tủ lạnh. Đến thời điểm vào cuối kỳ thu phân, các kiểu đồ ăn cho ăn, kiểu đồ ăn thừa, kiểu phân được trộn đều theo cá thể, lấy kiểu thay mặt & gửi đi phân tích các chỉ tiêu VCK, cổ phần, NDF, ADF & khoáng tổng cộng. Tỷ lệ tiêu hóa các hoạt chất được tính dựa theo tổng lượng dinh dưỡng thu nhận & thải ra trong phân.

Xác định trọng lượng cơ thể: Khối lượng bò được khẳng định ở các thời điểm: bắt đầu thí nghiệm & chấm dứt thí nghiệm bằng thước dây đo trực tiếp. Bò được đo mỗi con vào buổi sáng, trước lúc cho ăn. Bò được đo liên tục trong hai ngày & lấy số liệu bình quân. Khối lượng bò được khẳng định bằng cân điện tử RudWeight.

Xác định sản lượng sữa: Lượng sữa tiết ra được cân mỗi ngày theo cá thể. Mẫu sữa được lấy để phân tích thành phần hóa học trong quá trình thí nghiệm tiêu hóa & thời gian thu khí khẳng định mêtan thải ra. Thành phần hóa học của sữa được phân tích bằng máy Eko Milk Analyzer. Sản lượng sữa tiêu chí được tính theo công thức: FCM (kg) = 0,4 x SL sữa thực chất (kg) + 15 x lượng mỡ sữa thực chất (kg).

Xác định lượng CH4 thải ra: Lượng mêtan thải ra mỗi ngày được khẳng định theo phương pháp của Madsen et al. (2010) dựa theo mật độ CH4 /CO2 thải ra từ dạ cỏ. Mẫu khí được thu thập 2 ngày liên tiếp ở hai thời điểm: bắt đầu thí nghiệm (sau 15 ngày nuôi thích nghi) & chấm dứt thí nghiệm. Tổng lượng CH4 thải ra hàng ngày được dùng để tính toán cường độ phát thải mêtan: lượng CH4 thải ra theo kg VCK, NDF, ADF thu nhận (tương ứng là lít/kg VCK, lít/kg NDF, lít/kg ADF) & lượng CH4 thải ra theo khả năng gia công sữa (lít/kg FCM). Lượng khí CO2 thải ra/ngày (a) được ước lượng từ tổng lượng ME ăn vào & tổng lượng nhiệt sản sinh theo công thức: a (lít/ngày) = tổng lượng nhiệt sản sinh (HP, heat production)/21,75; HP (kj) = kj ME ăn vào – (kg tăng trọng x 20.000 kj/kg tăng trọng) – (kg sữa chuẩn x 3.130 kj/kg sữa chuẩn).

Quy đổi khí mêtan ra năng lượng thô theo phương pháp Brouwer (1965), một lít CH4 xấp xỉ 0,71 g mêtan; xấp xỉ 0,04 MJ năng lượng thô. 2.5. Xử lý đo lường Số liệu được khắc phục đo lường phân tích phương sai bằng mô hình tuyến tính tổng quan (GLM) trên chương trình Minitab 16. Các giá trị bình quân của các nghiệm thức được đánh giá đánh giá sự sai khác ở mức vai trò P > 0,05 bằng cách đánh giá cặp Tukey. Loại hình đo lường được dùng cho thí nghiệm là: Yij =  + Ti + eij Trong đó: Yij là biến phụthuộc  là giá trị bình quân Ti là tác động của suất ăn eij là sai số tình cờ, độc lập & phân bố chuẩn.

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Ảnh hưởng của bổ sung dầu bông đến lượng đồ ăn thu nhận

Kết quả cho biết, lượng đồ ăn thu nhận (% KL) dao động từ 3,41-3,6%, cao nhất ở khẩu phần KP1.5, thấp nhất ở khẩu phần ĐC. Kết quả cũng cho biết, việc việc bổ sung dầu có xu thế làm tăng lượng đồ ăn thu nhận, đương nhiên khi bổ sung dầu ở mức 3% & 4,5% đã không làm tăng lượng thu nhận (% KL) đối với lô bổ sung một,5% dầu (KP1.5) (P > 0.05).

Năng lượng thu nhận dao động từ 49.536- 56.683 kcal/con/ngày. Có sự sai khác giữa lô ĐC & các lô TN (P > 0,05). Điều này cũng có thể có thể giải thích bởi các bạn bổ sung dầu thực vật là bổ sung năng lượng nên mức năng lượng thu nhận mật độ thuận với mức bổ sung dầu. Mặc dù, lượng protein thu nhận ở các lô TN & lô ĐC dao động trong tầm 2,36-2,48 kg/con/ngày, thu nhận protein cao nhất ở mức bổ sung một,5% (KP1.5) & mức 4,5% (KP4.5).

Kết quả cho biết khả năng thu nhận NDF của các lô giao động từ 11,09-11,46 kg/con /ngày & khả năng thu nhận ADF của các lô giao động từ 5,16-5,32 kg/con/ngày. Mức thu nhận chất xơ thấp nhất ở mức bổ sung 3,0% (KP3.0).

3.2. Ảnh hưởng của bổ sung dầu bông đến mật độ tiêu hóa các chất dinh dưỡng

Bảng 4 cho biết, việc bổ sung dầu thực vật nơi đây với các mức không giống nhau đã giảm thiểu mật độ tiêu hóa các hoạt chất trong khẩu phần. Tỷ lệ tiêu hóa DM, OM, cổ phần, NDF, ADF giữa lô ĐC & lô KP1,5 là không hề có sự sai khác đo lường (P > 0,05), tuy nhiên có sự sai khác với các lô còn lại (P > 0,05). Cụ thể, mật độ tiêu hóa DM, OM giảm tầm 5,1%, 5,4% & 6,6%, 6,0% ở các lô KP3.0 & KP4.5 đối với ĐC.

Với mật độ tiêu hóa cổ phần, NDF, ADF giảm không đáng kể giữa lô ĐC & lô KP1,5 lần lượt giảm (0,33%; 0,5%; 0,74%), đương nhiên giữa lô ĐC & lô KP3.0, KP4.5 lần lượt là (7,78%; 6,38%), (7,2%; 6,4%), (8,8%; 7,8%). Theo Nguyễn Xuân Trạch (2004), khi dầu, mỡ trong đồ ăn đi vào môi trường dạ cỏ thường sẽ có dạng trixylglyxerol & galactolipit, chúng bị thủy phân bởi lipaza của vi sinh vật. Glyxerol & galactoza được lên men ngay thành các axít béo bay hơi (AXBBH). Các AXBBH giải phóng ra, được trung hòa ở pH dạ cỏ đa phần dưới dạng muối canxi có độ hòa tan thấp & bám vào bề mặt vi trùng & các tiểu phần đồ ăn. Chính chính vì vậy mật độ dầu mỡ quá cao trong khẩu phần thường giảm thiểu khả năng tiêu hóa xơ ở dạ cỏ. Như vậy, bổ sung dầu bông ở mức cao (3,0% & 4,5%) sẽ làm tác động đáng nói đến mật độ tiêu hóa các hoạt chất.

3.3. Ảnh hưởng của bổ sung dầu bông đến năng suất sữa

Kết quả cho biết sản lượng sữa của bò thí nghiệm ở các lô KP1.5; KP3.0 đều cao hơn đối với lô ĐC (tương ứng là 12,2%, tám,94%). Mặc dù khi tăng mức độ bổ sung lên 4,5% thì không hề có sự sai khác về năng suất sữa giữa lô ăn khẩu phần ĐC & lô ăn khẩu phần bổ sung 4,5% (P > 0,05). Như vậy, dường như nếu bổ sung với cùng 1 mức tối ưu đã làm tăng năng suất sữa tuy nhiên bổ sung liều cao hơn (4,5%) đã không nâng cao được năng suất sữa. Kết quả mật độ tiêu hóa hoạt chất (OM, cổ phần, NDF) trong khẩu phần của bò ở các lô thí nghiệm cho biết có xu thế giảm khi tăng mật độ bổ sung dầu bông (Bảng 4). Machmuller et al. (2003) đã report bổ sung lipit (dầu, mỡ) trong khẩu phần giảm thiểu tiêu hóa xơ & tác động đến mật độ tiêu hóa các hoạt chất của khẩu phần. Kết quả là đã tác động đến năng suất của bò thí nghiệm.

3.4. Ảnh hưởng của bổ sung dầu bông đến mức độ & cường độ phát thải khí mêtan

3.4.1. Mức độ phát thải khí mêtan

Kết quả cho biết, tổng lượng khí mêtan thải ra hàng ngày ở các gia súc thí nghiệm biến động trong tầm 386,86-544,03 lít/ngày. Có sự sai khác về tổng lượng khí mêtan thải ra giữa các lô có bổ sung dầu bông & lô không được bổ sung (lô ĐC). Bổ sung dầu bông đã giảm thiểu rõ nét lượng khí mêtan thải ra (P > 0,05). Lượng khí mêtan giảm tám,05%; 28,89%; 14,53%) tương ứng trên gia súc ăn ở lô KP1.5; KP3.0; KP4.5 đối với group ăn lô ĐC. Kết quả của các người sáng tác Machmüller & Kreuzer (1999) & Machmuller et al. (2003) cũng từng khẳng định việc bổ sung dầu vào khầu phần cho gia súc nhai lại có thể giảm ngay 25% (in vitro) đến 80% (invivo) lượng khí thải CH4 . Dầu, mỡ giảm CH4 vì gây độc cho vi trùng sinh methan. Dầu có chứa C12 (axit lauric) & C14 (axit myristic) đặc biệt độc với vi trùng sinh mêtan (Dohme et al., 2001; Machmuller et al., 2003). Khi bổ sung những loại dầu có chứa axit béo không no (dầu bông) có tài năng hấp phụ các ion H+ , giảm thiểu lượng ion H+ trong dạ cỏ, hiệu quả làm giảm thiểu quy trình tổng hợp khí mêtan. Mặc dù, hiệu quả cũng cho biết khi tăng mức bổ sung từ 3,0% lên 4,5% dầu bông đã không giảm thiểu được tổng lượng khí mêtan thải ra (Bảng 6). Như vậy, khi tăng lên mức 4,5% dầu bông đã không nâng cao kết quả giảm thiểu phát thải CH4 . Điều này cũng hoàn toàn phù phù hợp với những hiệu quả về mật độ tiêu hóa, khi tăng mức bổ sung dầu bông cao hơn (4,5%) đã giảm thiểu mật độ tiêu hóa & hiệu quả làm tăng độ trễ (lag time) đồ ăn ở dạ cỏ & đây dường giống như nguyên nhân làm tăng lượng khí mêtan ở group gia súc ăn khẩu phần bổ sung 4,5% dầu bông.

3.4.2. Cường độ phát thải khí mêtan

Ảnh hưởng của các nhân tố thí nghiệm đến kết quả phát thải CH4 tính theo đồ ăn thu nhận, tiêu hóa & tính trên nhà sản xuất năng suất sữa tiêu chí được thể hiện ở bảng 7. Kết quả cho biết lượng CH4 thải ra (g/kg VCK thu nhận) của các lô biến động trong tầm 12,6-19,0. Có sự sai khác giữa các lô được ăn bổ sung dầu bông đối với group không được ăn dầu bông (lô ĐC) (P > 0,05) & có xu thế giảm rõ nét ở mức bổ sung 3,0% dầu bông. Khi tính toán theo lượng dinh dưỡng tiêu hóa, hiệu quả cũng phù phù hợp với đánh giá trên.

Kết quả bảng 7 cũng cho biết lượng phát thải khí mêtan tính trên nhà sản xuất sữa tiêu chí (lít CH4 /kg FCM) ở các lô được cho ăn dầu bông đều có trị giá thấp hơn đối với lô ĐC (không được ăn dầu bông) (P > 0,05). Theo nhiều người sáng tác, khi mật độ tiêu hóa được nâng cao sẽ làm tăng lượng thu nhận, dẫn tới tốc độ vận chuyển đồ ăn trong đường tiêu hóa sẽ nhanh hơn, giảm thiểu thời gian lên men của VSV trong dạ cỏ & hiệu quả giảm sản sinh khí mêtan. Như vậy việc bổ sung dầu bông đã giảm thiểu thất thoát từ đồ ăn qua khí mêtan ra môi trường.

3.4.3. Năng lượng mất đi qua phát thải khí mêtan

Quá trình tổng hợp khí mêtan & thải khí cũng làm mất đi 1 phần năng lượng. Kết quả ước chức năng lượng mất đi qua mêtan được trình diễn ở bảng tám, biểu đồ một. Kết quả cho biết tổng GE thu nhận của các lô dao động trong tầm 82.889-89.204 kcal/ngày. Khi tăng mức bổ sung dầu bông, hiệu quả làm tăng GE thu nhận. Lượng GE mất đi dưới dạng mêtan (kcal/ngày) dao động từ 3.698,4-5.200,9 kcal/ngày & dao động chiếm tầm 4,17-6,28% tổng GE từ khẩu phần. Năng lượng mất đi qua mêtan giảm dần theo mức ăn tăng dần của việc bổ sung & đều thấp hơn đối với lô ĐC (không ăn bổ sung) (P > 0,05). Mặc dù giá trị thấp nhất để ý ở group bò ăn khẩu phần bổ sung 3% dầu bông.

4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

4.1. Kết luận

– Bổ sung dầu bông sẽ làm tăng lượng chất khô thu nhận 3,39-6,82%, tăng năng lượng thu nhận 6,25-14,43 & tăng năng suất sữa 5,4- 12,2%.

– Bổ sung dầu bông một,5% & 3% đã giảm thiểu tổng lượng phát thải, giảm năng lượng thất thoát từ đồ ăn qua phát thải khí mêtan (8,1-28,9%) & giảm cường độ phát thải khí mêtan tính trên nhà sản xuất sữa tiêu chí (l/kg FCM) 18,8-37,9%.

– Bổ sung dầu bông ở mức một,5-3,0 trong khẩu phần cho hiệu quả tối ưu nhất, làm tăng kết quả chăn nuôi, giảm phát thải khí CH4 ra môi trường.

4.2. Đề nghị

Cho ứng dụng hiệu quả bổ sung dầu bông vào khẩu phần của bò thời điểm tiết sữa với mức bổ sung một,5-3% khẩu phần.

Trần Hiệp & CS.

Khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

 
 
 
Quick View Loading...

ASOS Slim Fit T-Shirt With Crew Neck

Giá 79.000đđ 120.000đđ

Sản phẩm đang được bán có giá tốt nhất, với 7,680 sản phẩm đã được bán tới tay khách hàng với điểm đánh giá 4.7/5 sao.


SẢN PHẨM ĐƯỢC TÀI TRỢ

Giá Từ 0đ.
Giá Từ 1,000đ.
Giá Từ 1,890,500đ.
Giá Từ 5,900đ.
Giá Từ 15,138đ.
Giá Từ 1,000đ.
Giá Từ 3,000đ.
Giá Từ 6,500đ.
Giá Từ 1,000đ.
Giá Từ 1,890,000đ.
Giá Từ 0đ.
Giá Từ 2,300đ.

Những cách chế biến hải sâm thành món ăn ngon, bổ dưỡng Những cách chế biến hải sâm thành món ăn ngon, bổ dưỡng

Từ trước đây, hải sâm được coi là 1 trong số các món cao lương mỹ vị dùng cho các nhà vua. theo Giáo sư Nguyễn Tài Lương, Viện Công nghệ sinh học, là

“Nhà hàng ma” không bàn ghế, xu hướng dịch vụ mới trong ngành F&B Châu Á “Nhà hàng ma” không bàn ghế, xu hướng dịch vụ mới trong ngành F&B Châu Á

Trung Quốc, Japan & nhiều nước trong vùng châu Á, trong số ấy có cả Việt Nam (VN) đang chứng kiến sự tăng thêm đến chóng mặt quay cuồng và đau đầu của

Phần mềm quản lý “2 trong 1” mới của Facebook có thật sự xịn xò như lời đồn? Phần mềm quản lý “2 trong 1” mới của Facebook có thật sự xịn xò như lời đồn?

Facebook vừa mới đây đã cho giới thiệu phần mềm làm chủ 2 trong một – Facebook Business Suite giúp làm chủ các bài đăng hơn cả Facebook & Instagram từ

Đừng chiếm spotlight của cô dâu, nàng muốn diện đồ đi tiệc cưới duyên dáng cần nắm bí quyết này Đừng chiếm spotlight của cô dâu, nàng muốn diện đồ đi tiệc cưới duyên dáng cần nắm bí quyết này

Trước khi đi dự tiệc cưới, các quý bà sẽ đứng trước quá nhiều chọn lựa diện đồ không giống nhau. Không cần phải quá lo lắng, những lưu ý sau đây có th

Giải pháp Digital Marketing cho trường học gồm những công cụ nào? Giải pháp Digital Marketing cho trường học gồm những công cụ nào?

Sự bùng nổ của mạng internet sẽ làm đổi thay hoàn toàn cuộc sống của con người, chứa nhiều công cụ văn minh xuất hiện thay thế những giá trị cũ. Digit

6 cách để trẻ không quá gầy, quá béo 6 cách để trẻ không quá gầy, quá béo

1Sai lầm trong chính sách dinh dưỡng - Các hoạt chất không cân đối: thí dụ, trẻ ăn rất nhiều chất đạm, đồ ăn ngọt, đồ ăn nhanh, uống nước ngọt có g

Hướng dẫn kỹ thuật nuôi rắn ri voi Hướng dẫn kỹ thuật nuôi rắn ri voi

Thịt rắn ri voi vô cùng ngon, có thể chế biến nhiều đồ ăn tốt cho sức khỏe, giá rắn ri voi ngày nay trên thị trường vô cùng thu hút (270 – 300 ngàn đ/

No căng bụng với 5 quán cơm tấm ngon quên lối về ở Phú Nhuận No căng bụng với 5 quán cơm tấm ngon quên lối về ở Phú Nhuận

Cơm tấm là 1 món cực kì quen thuộc với người dân Thành phố Hồ Chí Minh. Họ có thể ăn cơm tấm thay vì bữa ăn sáng, bữa trưa, bữa tối. Bởi vậy nên lượn

Kẹo Annabella xoài muối ớt có giống kẹo Alpenliebe xoài muối ớt không? Kẹo Annabella xoài muối ớt có giống kẹo Alpenliebe xoài muối ớt không?

Vào đầu năm 2020, nhãn hiệu kẹo Alpenliebe cho giới thiệu mùi vị kẹo mới là kẹo xoài muối ớt & sẽ làm mưa làm gió trên thị trường đến ngày nay. Đi the

Khám phá 10 lợi ích tuyệt vời từ hành tím Khám phá 10 lợi ích tuyệt vời từ hành tím

Hành tím có nhiều khoáng chât như vi ta min C, vi ta min B6, biotin, axit folic, chromium, canxi & chất xơ bổ dưỡng. Do đó, từ xa xưa củ hành tím cực

10 dấu hiệu sắp sinh mẹ bầu dễ dàng nhận biết 10 dấu hiệu sắp sinh mẹ bầu dễ dàng nhận biết

Mặc dù sau thời điểm đi khám thai mẹ bầu đã được Bác Sỹ cho thấy ngày dự sinh. Mặc dù mẹ bầu vẫn không khỏi lo lắng việc sinh đẻ khó theo plan & không

Có gì bên trong những thương hiệu giành được lượng tương tác cao nhất trong tháng Tự hào Có gì bên trong những thương hiệu giành được lượng tương tác cao nhất trong tháng Tự hào

Under Armour, Converse & Ikea USA đó đó là những nhãn hiệu đã giành thắng lợi trong tháng Tự hào trên nền tảng Instagram. Cả ba công ty đã chứng kiến

Virus Covid-19 tàn phá cơ thể người bằng cách nào? Virus Covid-19 tàn phá cơ thể người bằng cách nào?

Đối với 1 người mạnh khỏe, sau thời điểm tình cờ hít phải virus của 1 người bị bệnh, khi họ ho hoặc hắt xì. Từ đó, virus sẽ thâm nhập đường hô hấp của

Các Công Cụ Digital Marketing Cho Giáo Dục – Chiến Thắng Các Đối Thủ Cạnh Tranh Các Công Cụ Digital Marketing Cho Giáo Dục – Chiến Thắng Các Đối Thủ Cạnh Tranh

Không khó để các bạn bắt gặp quảng cáo của những trung tâm ngoại ngữ, công ty tư vấn du học hay một vài ít hơn là các trung tâm đào tạo kĩ năng mềm qu

Bảng tiêu chuẩn chiều cao, cân nặng của bé trai, bé gái theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) Bảng tiêu chuẩn chiều cao, cân nặng của bé trai, bé gái theo tổ chức Y tế thế giới (WHO)

Bố mẹ bỉm sữa sau thời điểm có con thì thường sẽ có thói quen đo chiều cao hay cân nặng của các bé hàng ngày. Chính do vậy nên cần 1 bảng tiêu chí chu

Có nên cho trẻ em ăn nui hay không? Có nên cho trẻ em ăn nui hay không?

Thành phần của nui - Nui được coi là 1 loai đồ ăn khô, được làm từ bột mì & bột gạo, phối hợp thêm với những loại rau củ quả, không chứa hàn the nê

10 món ngon, bổ dưỡng, dễ làm từ trứng cút 10 món ngon, bổ dưỡng, dễ làm từ trứng cút

Trứng cút còn được cho là là đồ ăn giàu hoạt chất, giúp thân thể đẩy mạnh hệ miễn dịch & mang lại nhiều ích lợi bổ dưỡng. Thế nên, hãy khám phá 10 món

Trào lưu sống xanh không còn là chuyện của riêng ai, các thương hiệu quốc tế giờ cũng đã vào cuộc Trào lưu sống xanh không còn là chuyện của riêng ai, các thương hiệu quốc tế giờ cũng đã vào cuộc

Ống hút giấy, xe điện & những đồ dùng tái chế đang càng ngày trở thành đa dạng hơn trong trái đất người mua hàng. Trong những năm trở lại đây, sự quan



Có thể bạn quan tâm

© Copyright 2020. All Rights Reserved [Website đang chạy thử nghiệm]